Skip to content Skip to sidebar Skip to footer

IPDTC phối hợp với các đối tác triển khai dự án “Hành trình di sản Hà Nội”: khảo sát Chùa Hàm Long và Đình-Đền Đông Hạ

VIỆN BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG PHỐI HỢP VỚI CÁC ĐỐI TÁC TRIỂN KHAI DỰ ÁN “HÀNH TRÌNH DI SẢN HÀ NỘI – KHẢO SÁT CHÙA HÀM LONG VÀ ĐÌNH-ĐỀN ĐÔNG HẠ

(Trong khuôn khổ Dự án FEF-R “Hành trình du lịch di sản Thành phố Hà Nội”)

Trong dòng chảy không ngừng của đô thị hiện đại, di sản văn hoá vẫn là sợi dây thiêng liêng nối liền quá khứ với hiện tại, giúp chúng ta nhận diện bản sắc và nuôi dưỡng niềm tự hào dân tộc. Với mục tiêu bảo tồn, phát huy giá trị di sản đô thị Hà Nội, Viện Bảo tồn và Phát triển Văn hoá Truyền thống phối hợp cùng Đại học Kiến trúc Hà Nội, các Trường ĐH Kiến trúc Quốc gia Toulouse, Bordeaux và Normandie, Đại học Khoa học xã hội và Nhân Văn Hà Nội triển khai Dự án FEF-R “Hành trình du lịch di sản Thành phố Hà Nội” – một hành trình học thuật, văn hoá và giáo dục nhằm đưa sinh viên, nhà nghiên cứu, và công chúng đến gần hơn với di sản.

Trong khuôn khổ dự án, một buổi khảo sát thực địa tại chùa Hàm Long (số nhà 18 phố Hàm Long) và đình-đền Đông Hạ (ngõ Huế, phố Huế) đã được tổ chức vào chiều thứ Ba, ngày 21 tháng 10 năm 2025.

Chương trình quy tụ 45 sinh viên, giảng viên và chuyên gia Pháp-Việt đến từ Đại học Kiến trúc Hà Nội, các Trường ĐH Kiến trúc Quốc gia Toulouse, Bordeaux và Normandie, Đại học Khoa học xã hội và Nhân Văn Hà Nội, Viện Bảo tồn và Phát triển Văn hoá Truyền thống. Chương trình nhằm mục tiêu tăng cường trao đổi khoa học, đào tạo sinh viên trực tiếp tại di tích về văn khắc, về việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản đô thị Hà Nội và triển khai kết nối liên ngành, đặc biệt trong khuôn khổ hợp tác Pháp -Việt.

Chương trình có sự góp mặt của:

  • Ông Denis Formeau, Tuỳ viên Hợp tác khoa học và Đại học, Đại sứ quán Pháp.
  • TS. Nguyễn Tuấn Cường, Thành viên hội đồng di sản quốc gia, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện sĩ Thông tấn nước ngoài, Viện Hàn lâm Văn khắc và Mỹ văn Pháp.
  • Nguyễn Thị Hiệp, Chuyên gia về di sản, Cơ quan Hợp tác kỹ thuật quốc tế Pháp (Expertise France), Chủ nhiệm Dự án FEF-R “Hành trình du lịch di sản Hà Nội”.
  • Nguyễn Thái Huyền, Phó Viện trưởng Viện Đào tạo và Hợp tác quốc tế, Đại học Kiến trúc Hà Nội.
  • Douchan Palacios, Giảng viên Đại học Kiến trúc Quốc gia Toulouse.
  • Các học viên thuộc Chương trình Liên kết đào tạo thạc sĩ kiến trúc Pháp, Viện Đào tạo và Hợp tác quốc tế, Đại học Kiến trúc Hà Nội.
  • Một số sinh viên khoa Lịch sử, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn.

 

Kết quả chuyến tham quan Chùa Hàm Long

 PGS.TS. Nguyễn Tuấn Cường giới thiệu về hai tấm bia quý (đã được xếp hạng là di tích lịch sử quốc gia từ năm 2011), đặc biệt là tấm bia “Hàm Long tự bi ký”, do hai danh thần thời Lê là Đặng Đình Tướng và Nguyễn Quý Đức phụng soạn năm 1714 ghi lại cảnh đẹp của chùa và công lao tôn tạo di tích của bà Thái phi Trương thị.

 

Ảnh: Hình ảnh tham khảo về hai tấm bia (Nguồn tư liệu: Dự án Vietnamica)

 

Chùm ảnh: TS. Nguyễn Tuấn Cường giới thiệu về hai tấm bia quý

 

Tiếp nối chương trình, TS. Nguyễn Thị Hiệp, chủ nhiệm Dự án “Hành trình du lịch di sản thành phố Hà Nội”, giới thiệu về lịch sử chùa Hàm Long và những thăng trầm của ngôi chùa từng là “một danh thắng trong ba mươi sáu cõi thiền” của Thăng Long xưa. Hiện trạng bị xâm lấn của ngôi chùa cũng cho thấy hệ quả những biến động lịch sử và đặc biệt là sự đô thị hóa tác động lên các công trình văn hóa, tôn giáo lâu đời.

 

Ảnh: TS. Nguyễn Thị Hiệp- Chủ nhiệm Dự án FEF-R “Hành trình du lịch di sản Hà Nội” – giới thiệu lịch sử chùa Hàm Long

 

Ảnh: Denis Fourmeau – Tùy viên hợp tác khoa học và đại học, Đại sứ quán Pháp trả lời phỏng vấn của Đài Truyền Hình Hà Nội

 

 Hộp thông tin số 1: Thông tin về chùa Hàm Long (*)

Chùa Hàm Long tọa lạc tại tầng 2 số 18 Hàm Long, thành phố Hà Nội. Chùa còn có nhiều tên gọi khác như đền Hội Khánh, Vạn Hạnh Tự. Tên đền Hội Khánh xuất phát từ truyền thuyết về thần Ngô Long, vị phụ đạo chính quốc thời Hùng Duệ Vương, có công dẹp giặc Hồ Lư ở Châu Hoan. Ngô Long từng sống ở quán Long Đầu. Sau khi ông mất, dân chúng sửa quán Long Đầu khang trang, làm thành đền Hội Khánh để thờ phụng. Đến thời Lý, vua Lý Thái Tổ đã chính thức phong cho Ngô Long danh hiệu Long thần và theo thế đất đền Hội Khánh tựa như rồng ngậm ngọc (hàm châu long), nên cho đổi đền thành chùa Hàm Long.

Chùa Hàm Long thờ Phật, đồng thời cũng thờ thần Ngô Long (tiền Phật hậu Thần). Từ đó, chùa Hàm Long được mở rộng quy mô và trở thành ngôi chùa đồ sộ có kiến trúc đẹp. Đây từng được coi là trung tâm Phật giáo lớn nhất thành Thăng Long thế kỷ XVIII… Dưới thời Lê Trung Hưng, chùa được coi là “một danh thắng trong ba mươi sáu cõi thiền”.

Giai đoạn kháng chiến chống Pháp, chùa bị bom đạn tàn phá nặng nề và trở thành phế tích. Đến những năm 1952-1953, ngay trong hoàn cảnh kháng chiến, hòa thượng Tố Liên và hòa thượng Trí Hải đã cùng các Phật tử góp công góp của xây dựng trường đào tạo tăng ni ngay trong khuôn viên Chùa Hàm Long cũ và đặt tên là trường Vạn Hạnh. Sau ngày giải phóng Thủ đô (1954), hai hòa thượng rời đi, ngôi trường bị bỏ hoang và sau này trở thành trường Tiểu học Lý Tự Trọng (trường Tiểu học Võ Thị Sáu hiện tại).

Đến khoảng 1980-1982, ni sư Thích Đàm Chính (sư trụ trì hiện tại) cùng các đệ tử đã khôi phục lại chùa, lấy một phần không gian tầng 2 làm đền-chùa Hàm Long, sửa mái, tạo không gian tam bảo, nhà tổ, nhà Mẫu và khu vực sinh hoạt cho tăng ni.

Nằm trên tầng 2 số nhà 18 Hàm Long, cầu thang dẫn lên chùa khá nhỏ. Chùa có nhà tam bảo, gian thờ tổ, nhà mẫu, ban thờ sơn trang, miếu thành hoàng. Nhà tam bảo có 5 gian hình chữ Nhất, xây bằng bê tông cốt thép, có 2 tầng mái. Tượng thờ bên trong được sắp xếp bố trí theo chiều dọc của tòa nhà. Gian trong cùng là nơi thờ tổ sư của chùa và phối thờ đại nguyên soái Ngô Long và Bồ tát Chuẩn đề. 3 gian tiếp theo là nơi đặt tượng chính của chùa và nơi hành lễ, gian ngoài cùng là nơi ở của sư. Bên ngoài, còn có nhà mẫu 3 gian, bên trong thờ tam tòa thánh mẫu và ban sơn trang và đức thánh Trần. Ngoài ra còn có ban Cô, ban Cậu, ban Mẫu Thượng Thiên, Sơn Trang. Đặc biệt có thêm miếu thờ thành hoàng, bên trong bài trí đơn giản, chỉ có ngai, bài vị, bát hương.

Hiện nay, chùa chỉ còn có 2 tháp mộ của tổ sư, 3 tấm bia lớn bằng đá xanh có khắc niên hiệu Vĩnh Thịnh, thời Lê Trung Hưng thế kỷ XVIII. Trong đó, có 2 tấm bia đá cỡ lớn, tên là “Hàm Long tự bi ký” (bài ký chùa Hàm Long) ghi lại lịch sử, cảnh đẹp của chùa, đặc biệt ghi lại sự việc thái phi Trương thị cầu tự, sinh ra thế tử (sau là chúa Trịnh Cương). Tấm bia do Ứng quận công Đặng Đình Tướng và danh thần Nguyễn Quý Đức phụng soạn vào năm 1714.

Hiện bia đá và tháp tổ nằm lọt trong khuôn viên nhà dân: 1 tấm bia đá nằm trên đường đi của ngõ 18 Hàm Long; 1 tấm bia nằm trong sân vườn 1 hộ dân và không thể vào xem nếu không được chủ nhà cho phép; 1 tấm bia đá nằm trong khuôn viên trường tiểu học Võ Thị Sáu; 2 tháp mộ nằm sâu trong cùng ngõ 18 Hàm Long, khá gần nhau. Ngoài ra, còn 1 phần kiến trúc được cho là cây hương hoặc khu vực hoá vàng mã nằm gần 2 tháp mộ nay đã bị người dân sử dụng làm nơi để đồ.

Chùa đã được xếp hạng Di tích cấp thành phố năm 2013. Riêng hai tấm bia của chùa được xếp hạng Di tích Quốc gia năm 2011.

(*) Tài liệu tham khảo:

– Tạp chí Người Hà Nội online

Hà Nội – Danh thắng và di tích, Tập 1, Lưu Minh Trị chủ biên, NXB Hà Nội

 

Kết quả chuyến tham quan khu di tích Đình- Đền Đông Hạ

 Đoàn khảo sát tiếp tục tham quan Đình – đền Đông Hạ, số 28–30 ngõ Huế, phố Ngô Thì Nhậm, Hà Nội. Đây là khu di tích gồm cả đình và đền cùng nằm trên một mảnh đất cổ thuộc tổng Tả Nghiêm, huyện Thọ Xương xưa.

Đình Đông Hạ thờ Cao Sơn Đại vương, Linh Lang Đại vương và Đức Thánh Trần Hưng Đạo, mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX.
Đền Đông Hạ (Linh Ứng Tự) thờ Tam phủ Thánh Mẫu và Liễu Hạnh công chúa. Cả hai công trình được Thành phố Hà Nội xếp hạng Di tích Kiến trúc – Nghệ thuật năm 1999.

 

Chùm ảnh: TS. Nguyễn Tuấn Cường giới thiệu tấm bia “Hậu thần bi ký” (1716), ghi công đức bà Cao Thị Đương và các quy định về nghi thức cúng giỗ trong đền.

 

Ảnh: TS. Nguyễn Thị Hiệp- Chủ nhiệm Dự án FEF-R “Hành trình du lịch di sản Hà Nội” – trò chuyện với thủ nhang tại đền.

 

Ảnh: Ông Denis Formeau, Tuỳ viên Hợp tác khoa học và Đại học, Đại sứ quán Pháp, TS. Nguyễn Thị Hiệp, Chủ nhiệm Dự án FEF-R “Hành trình du lịch di sản Hà Nội”

Ảnh: Các sinh viên tham quan tại khu di tích Đình -Đền Đông Hạ

 

Hộp thông tin số 2: Thông tin về khu di tích Đình-Đền Đông Hạ (**)

Khu di tích Đình, đền Đông Hạ cùng nằm chung trên một mảnh đất thuộc số nhà 28-30 ngõ Huế, phố Ngô Thì Nhậm, Hà Nội. Nơi đây nguyên là một làng cổ, thuộc tổng Tả Nghiêm, huyện Thọ Xương, phía Nam kinh thành Thăng Long xưa. Thời Pháp thuộc, ngõ Huế được gọi là phố “Viên đội gác”. Sau Cách mạng tháng Tám, đổi tên là ngõ Duy Tân (vì phố Huế lúc đó gọi là phố Duy Tân). Đến ngày giải phóng Thủ đô (1954), gọi là ngõ Huế và giữ nguyên tên gọi cho đến ngày nay.

Theo tư liệu khắc trên tấm bia “Hậu Thần Bi ký” dựng năm Vĩnh Thịnh 12 (1716) ghi việc một số gia đình đã công đức vào đình và xin được bầu làm hậu thần…xác định đình Đông Hạ được khởi dựng từ thời Hậu Lê thế kỷ 18. Đình thờ tam vị thành hoàng làng: Cao Sơn Đại vương, Linh Lang đại vương và Đức Thánh Trần-Trần Hưng Đạo. Đình được xây nhìn hướng Đông gồm 3 gian đại bái, 1 gian hậu cung. Hiện nay, đình đang còn lưu giữ một số bức hoành phi, câu đối có niên đại triều Nguyễn – vua Khải Định, Bảo Đại, ba cỗ long ngai bài vị thờ tam vị Thành hoàng làng – phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX.

Đền Đông Hạ, tên chữ là Linh Ứng Tự được khởi dựng thời Hậu Lê thế kỷ XVIII, có lẽ cùng thời điểm dựng ngôi đình làng. Trải qua thời gian, di tích được trùng tu vào năm Thành Thái 7 (1895) được ghi lại tại bia vô đề hiện dựng tại đền, đến năm Bảo Đại 3 (1928) lại được dựng lại do mở đường…. Đây cũng là những di vật có giá trị hiện còn lưu giữ tại di tích. Đền thờ phụng các Thánh mẫu Tam phủ và Liễu Hạnh công chúa. Tại Hà Nội đền Đông Hạ được biết đến là nơi thường xuyên tổ chức hầu đồng vào đầu các tháng. Ngôi đền là một nếp nhà 3 gian cửa bức bàn, mặt quay về hướng Nam gồm các công trình: Nghi môn, sân, đền chính, am thờ Cô, Cậu và nhà thờ Tổ hậu. Đền chính gồm Tiền bái và Hậu cung. Đền còn đang lưu giữ một số hiện vật tiêu biểu như: Tượng Ngọc Hoàng, tượng võ tướng mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII-XIX; bức hoành phi “Mẫu Nghi Thiên Hạ” niên hiệu Bảo Đại Mậu Thìn (1929) và hệ thống các bức cửa võng, y môn, hoành phi, cột treo các đôi câu đối sơn son thếp vàng, hương án, đồ thờ chủ yếu mang phong cách nghệ thuật cuối thế kỷ XIX, XX.

Đình, đền Đông Hạ đã được Thành phố Hà Nội xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật năm 1999.

(**) Nguồn tham khảo:

Tạp chí Người Hà Nội online

Ban quản lý di tích quận Hai Bà Trưng.

Hà Nội – Danh thắng và di tích, Tập 1, Lưu Minh Trị chủ biên, NXB Hà Nội

 

Buổi khảo sát thực địa trong khuôn khổ Dự án là cơ hội quý báu cho các sinh viên, đặc biệt là các sinh viên Pháp, được tiếp cận thực địa di sản, gặp gỡ và quan sát công việc giữ gìn, bảo tồn di sản hằng ngày. Ngoài mục tiêu kết hợp nghiên cứu với đào tạo, dự án “Hành trình du lịch di sản Hà Nội” cũng mong muốn phổ biến di sản cộng đồng, đưa di sản đến gần hơn với cộng đồng, từ đó mở ra tương lai để bảo tồn, phát huy và phát triển di tích trong lòng đô thị.

 

Mỗi chuyến đi là một nhịp cầu nối giữa tri thức và cảm xúc. Với Viện Bảo tồn và Phát triển Văn hoá Truyền thống, “Hành trình di sản” không chỉ dừng ở khảo sát hay nghiên cứu, mà là một nỗ lực dài lâu nhằm gìn giữ linh hồn của Hà Nội trong nhịp sống hiện đại.

Viện sẽ tiếp tục đồng hành cùng các cơ quan, trường đại học và cộng đồng để biến những di sản tưởng chừng tĩnh lặng thành những không gian sống động của ký ức, sáng tạo và giáo dục, góp phần nuôi dưỡng bản sắc văn hoá Việt Nam trong tương lai.